Skip to main content

ĐÓNG GIẢ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỂ LỪA ĐẢO BÁN ĐÁ THIÊN THẠCH

(22/05/2020 10:45)

Ngày 18/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đối với bị cáo Lê Anh Nguyên và đồng phạm bị Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Nội dung vụ án như sau:

Khoảng tháng 5/2017, Lê Anh Nguyên (thường gọi là Minh) quen biết với Phan Thành Dư là người làm thuê cho ông Bùi Văn Sang. Biết ông Sang đang tìm mua đá quý để bán lại kiếm lời nên Dư bàn với Nguyên tìm cách nói dối làm cho ông Sang tin là Nguyên đang có đá thiên thạch cần bán. Dư cho Nguyên biết cách thử đá thiên thạch như sau: đá được bỏ trong hộp có nắp đậy kín không nhìn thấy bên trong, người mua sẽ bỏ vào một miếng kính hình chữ nhật dài khoảng 8cm, dày 5mm rồi đậy nắp hộp lại; khoảng 5 phút sau lấy kính ra, nếu kính bị nứt thì đúng là đá thiên thạch. Dư nói Nguyên tìm người giả bán đá và làm cho kính bị nứt là được chia tiền. Nguyên đồng ý và sau đó rủ Nguyễn Liễu Anh Vinh, Vinh cũng đồng ý tham gia. Vinh cùng Nguyên đi gặp một ông già người dân tộc thiểu số (thường gọi là ông già đeo kính). Nguyên và Vinh bảo người này giả làm người bán đá, người này đồng ý và chuẩn bị 01 hộp nhựa hình trụ màu đen, dài khoảng 15cm, bán kính khoảng 12cm, nắp bằng kim loại để giả làm hộp đựng đá thiên thạch và 01 miếng kính đã bị nứt để lừa ông Sang. Sau đó, Vinh và Nguyên tìm thêm 07 người nữa để cùng với ông già đóng vai một gia đình người dân tộc thiểu số, cùng đi bán đá thiên thạch để bên mua dễ tin là thật và giao tiền.

Sau khi đã chuẩn bị xong dụng cụ và số người, Nguyên điện thoại báo cho Dư biết. Dư báo cho ông Sang là có người bán đá thiên thạch và hẹn gặp mặt tại đoạn đường ngã ba Cầu Lùng (Diên Khánh, Khánh Hòa) vào sáng ngày 23/6/2017 để giao dịch, ông Sang đồng ý. Sau đó, Dư báo cho Nguyên biết thời gian và địa điểm, đồng thời yêu cầu Nguyên chuẩn bị chi phí là 10.000.000đ theo như yêu cầu của ông Sang, Nguyên đồng ý.

Sáng ngày 23/6/2017, nhóm của Nguyên gồm Lê Anh Nguyên, Nguyễn Liễu Anh Vinh, Ya Oanh, Thổ Anh Nhịn, Trần Thị Thiết, Ma Hương, Mang Quyên, người có tên Thái và hai người già là người dân tộc thiểu số cùng nhóm của ông Sang và Dư gặp nhau tại địa điểm đã hẹn. Tại đây, Vinh thỏa thuận với ông Sang việc thử đá, nếu kính bị nứt ông Sang sẽ đặt cọc 01 tỷ đồng. Các bên đồng ý rồi đi đến bãi đất trống gần quán cà phê để thử đá. Nguyên và ông Phát (bạn ông Sang) cùng mở nắp hộp, ông Sang bỏ miếng kính vào hộp (miếng kính này của Dư chuẩn bị sẵn đưa cho ông Phát). Khoảng 15 phút sau, ông Phát cùng Nguyên mở nắp hộp, thấy kính bị nứt nên ông Sang tin là đá thiên thạch và đồng ý đặt cọc tiền. Tại quán cà phê, ông Sang đưa cho ông già đeo kính số tiền 01 tỷ đồng. Sau đó, đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, ông Sang đưa tiếp cho ông già đeo kính số tiền 300.000.000đ. Tổng cộng ông Sang đã đưa cho ông già đeo kính là 1,3 tỷ đồng. Sau khi nhận tiền, ông già đeo kính người dân tộc thiểu số đưa hết cho Nguyên, Nguyên chia trước cho Dư số tiền là 200.000.000đ. Tiếp đó, vì ông Sang yêu cầu được thử đá lần nữa để giao thêm tiền nên đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, anh Nam là nhân viên thẩm định đá quý do ông Sang thuê có mặt để làm thủ tục thử đá. Khi Nam chuẩn bị bỏ kính vào hộp thì Vinh sợ nhóm ông Sang phát hiện đá thiên thạch là giả nên chạy đến giật lấy hộp đựng đá cùng cả nhóm bỏ chạy.

Các bị cáo đã được chia tiền từ số tiền chiếm đoạt được như sau: Phan Thành Dư 200.000.000đ, Lê Anh Nguyên 470.000.000đ, Nguyễn Liễu Anh Vinh 100.000.000đ, Ya Oanh: 35.000.000đ, Thổ Anh Nhịn 30.000.000đ, Trần Thị Thiết 60.000.000đ, Mang Quyên 25.000.000đ. Bị hại ông Bùi Văn Sang đã nhận lại từ cơ quan điều tra tổng số tiền 731.450.000đ và 200.000.000đ do Phan Thành Dư giấu trong ca bin xe ô tô của ông và yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 300.000.000đ.

Đối với người thanh niên tên Thái và hai người già dân tộc thiểu số, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nơi cư trú hiện nay. Đối tượng Ma Hương bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm đình chỉ và ra Quyết định truy nã. Vì vậy, Viện Kiểm sát chưa truy tố các đối tượng nói trên trong vụ án này.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại, gây tâm lý bất ổn trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã chuẩn bị phương tiện, công cụ; bàn bạc cách thức và tiến hành phân công nhiệm vụ. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, các bị cáo nộp lại tiền đã chiếm đoạt để trả lại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.

D:\tài liệu cơ quan\ảnh\nguyên + ĐP2.jpg

Các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án, Phan Thành Dư là người khởi xướng và chủ động bàn bạc với Lê Anh Nguyên về phương thức thực hiện tội phạm. Lê Anh Nguyên là người hưởng ứng tích cực, đã trực tiếp tìm, rủ các bị cáo khác cùng tham gia thực hiện tội phạm. Dư và Nguyên đều giữ vai trò chủ mưu, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác trong việc thực hiện tội phạm. Sau khi chiếm đoạt được tiền từ bị hại, Nguyên là người trực tiếp chia tiền cho các bị cáo khác. Ngoài ra, Nguyên là người đã có tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích. Nguyễn Liễu Anh Vinh khi được Nguyên rủ đã đồng tình, cùng Nguyên đi gặp Dư để bàn bạc việc thực hiện tội phạm và là người thực hành tích cực. Các bị cáo Ya Oanh, Thổ Anh Nhịn, Trần Thị Thiết, Mang Quyên vì ham lợi đã đồng ý tham gia thực hiện tội phạm, tuy nhiên, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật kém và lạc hậu, mức độ phạm tội hạn chế hơn.

Sau khi xem xét toàn diện và đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo Lê Anh Nguyên 14 năm tù, bị cáo Phan Thành Dư 13 năm tù, bị cáo Nguyễn Liễu Anh Vinh 12 năm tù; các bị cáo Ya Oanh, Thổ Anh Nhịn, Trần Thị Thiết và Mang Quyên mỗi bị cáo 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Hành vi của các bị cáo được thực hiện trước ngày 01/01/2018 và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên việc xử lý đối với các bị cáo căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999).

Mỹ Hạnh


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 32
cdscv